Monday, March 24, 2014

Những tác dụng của Bông Bụp Giấm

Cây bụp giấm (có nơi gọi là bụt giấm) có nguồn gốc ở Tây Phi. Có tên khoa học là Hibiscus sabdariffla L., họ Bông (Malvaceae). Công dụng của cây bụp giấm rất phong phú cụ thể như lá có vị chua chua, dùng làm rau ăn. Người ta thường dùng đài hoa có vị chua làm gia vị thay giấm, chế nước giải khát, làm mứt. Có nơi dùng chế xiro. Người ta có thể cho xiro đó lên men. Lá dùng như chất thơm và cùng với đài hoa, quả để trị bệnh scorbut (do thiếu vitamin C). Toàn cây có thể chế rượu vang: Rượu có mầu đỏ đẹp, vị chát, chua dịu, dáng dấp của vang Bordeaux.


 ​
Bộ phận dùng làm thuốc là đài quả, lá. Được thu hái vào mùa thu, lúc các lá đài còn mềm, không nhăn héo và có màu đỏ sẫm. Và cũng chỉ thu hái trong vòng 15 – 20 ngày sau khi hoa nở vì để lâu, dược liệu sẽ kém phẩm chất. Kết quả nghiên cứu về dược lý cho thấy, đài hoa bụp giấm có tác dụng chống co thắt cơ trơn, làm thư giãn cơ trơn tử cung, làm hạ huyết áp và có tính kháng sinh, trị ho, viêm họng. Kinh nghiệm dân gian là nhai ngậm đài hoa bụt giấm để trị viêm họng, ho. Đài và lá cũng được dùng làm thuốc nhuận gan, lợi tiểu. Có hàm lượng vitamin A, B1, C, D, E, F cao và nhiều axít hữu cơ khác. Gần đây, Rovesti và Griebel công bố tác dụng chữa xơ vữa động mạch và tính kháng khuẩn đường ruột cao của bụp giấm.



Còn theo tài liệu nước ngoài, những nghiên cứu trong phòng thí nghiệm đã chứng minh hoạt chất từ Bụp giấm có tính kháng khuẩn, kháng nấm, chống viêm, chống ôxy hóa (sự già hóa của cơ thể), giúp ngăn ngừa bệnh tim mạch, tăng cường chức năng tiêu hóa, nhuận tràng, hạ huyết áp, làm giảm cholesterol trong máu, chống xơ vữa động mạch, giảm sự đọng lipid ở gan và bảo vệ tế bào gan. Nó thường được phối hợp với các vị thuốc khác để chữa bệnh gan mật, cao huyết áp. Liều dùng 9 - 15 gr đài hoa, sắc hoặc hãm nước uống. Nhiều nước đã dùng Bụp giấm làm nước giải khát, trà giải nhiệt. Lá non dùng làm rau ăn, cũng có tác dụng lợi tiểu, an thần và làm mát.

Tuy nhiên, không dùng cánh hoa làm dược liệu vì chưa có nghiên cứu về tác dụng của cánh hoa.

Hoa Tầm Xuân và những bài thuốc xung quanh nó

Hoa Tầm Xuân còn có tên gọi khác thích hoa,bạch tàn hoa,ngưu cức, tường mi, thích mi, thập tỉ muội, dã tường vi,... tên khoa học là Rosa multiflora Thunb thuộc họ hoa hồng Rosaceae, tầm xuân mọc thành bụi, lá kép lông chim, thân nhiều gai, hoa 5 cánh nhỏ bé nhưng khá đẹp với nhiều màu sắc khác nhau như hồng, đỏ, trắng, vàng, ....

​
Theo quan niệm của y học cổ truyền ,tầm xuân có công dụng thanh nhiệt lợi thấp,trừ phong,hoạt huyết chỉ huyết,giải độc giảm đâu thường trị các bệnh như hoàng đản,thủy lũng ,lụy tật,tiêu khát,bĩ tích,đái dầm ở trẻ em,.... Tùy vào từng bộ phận của tầm xuân mà tác dụng chữa bệnh cũng có điểm khác nhau.



HOA: 
thường được thu hái vào mùa xuân có công dụng để chữa các bệnh như:

1. Cảm nóng,cảm nắng vào mùa hè có các triệu chứng như buồn nôn và nôn,có thể nôn ra máu,môi khô miệng khát,chán ăn.Có các bài thuốc như sau:
-Dùng hoa tầm xuân 3-9g sắc uống
-Hoặc dùng hoa tầm xuân 5g+thiên hoa ấn 10g+sinh thạch cao 30(g)+mạch môn 15g sắc uống
-Hoa tầm xuân 10(g)+đậu ván trắng 10g hãm với nước sôi cho thêm chút đường phèn, uống thay trà.
2. Nôn ra máu ,chảy máu cam
-Hoa tầm xuân 6g+ bạch cập 15g+rễ cỏ tranh 30g sắc uống
-Sốt rét :dùng hoa tầm xuân sắc uống thay trà
4. Bướu tuyến giáp :
-Hoa tầm xuân 5g+hoa hậu phác 5g+hoa chỉ xác 5g+hoa hồng 5g sắc uống
5. Đái tháo đường và viêm loét niêm mạc miệng mãn tính dùng sương đọng trên hoa tầm xuân vào sáng sớm 30ml pha chút nước ấm uống hằng ngày.

LÁ: thu hái quanh năm có tác dụng sinh cơ và làm liền vết thương nhanh dùng để trị các bệnh :

1. Bị nhọt cso mủ chưa loét lấy lá tầm xuân sấy khô,trộn với mật ong và ggiấm đắp lên
2. Viêm loét chị dưới lấy lá tầm xuân không kể liều lượng nấu nước rửa vết thương
3. Nhọt độc sưng nề nhiều dùng lá và cành non tầm xuân rửa sạch dã nát đắp với 1 chút muối ăn lên chỗ tổn thương

RỄ:  Vị đắng hơi sáp ,tính bình,có công dụng thanh nhiệt lợi thấp,trừ phong,hoạt huyết và giải độc được dùng để chữa nhiều bệnh như:

1. Liệt mặt và di trứng liệt nửa người do tăng huyết áp dùng rế tầm xuân 15-30g sắc uống
2. chảy máu cảm mãn tính dùng vỏ rễ tầm xuân 60g hầm với thịt gà ăn
3. Ghẻ về mùa hè dùng rể tầm xuân sắc uống thay trà
4. Đau răng và viêm loét miệng dùng rễ tầm xuân sắc uống hoặc ngậm
5. Viêm khớp ,liệt nửa người,kinh nguyệt không đều ,khí hư và tiểu tiện không tự chủ dùng rễ tầm xuân 15-30g sắc uống.
6. Hoàng đản( vàng da do nhiều nguyên nhân) dùng rễ tầm xuân 15-25g hầm với 600g thịt nạc,chế thêm một chút rượu vang chia thành nhiều phần ăn trong ngày.
7. Đái dầm ở trẻ em ,người già đi tiểu nhiều lần dùng rễ tầm xuân 30g sắc uống hoặc hầm với thịt lợn ăn
8. Phế ung (áp xe phổi) dùng rễ tầm xuân 15g+hạt bí đao 30g ý dĩ 30g sắc uống
9. Vết thương chảy máu dùng lượng vừa đủ rễ tầm xuân sấy khô tán bột rắc vào chỗ tổn thương,cũng có thể trộn với dầu vừng để đắp
10. Bị bỏng dùng rễ tầm xuân nấu nước rửa hằng ngày hoặc bột rễ tầm xuân trộn với dầu vừng để đắp.

Theo kết quả nghiên cứu dược lí học hiện đại ,thành phần chủ yếu của rễ tầm xuân có -sitosterol, dyhydroxy, ursolic acid,...., Dịch chết có tác dụng chống đông máu,bảo vệ cơ tim,làm giảm cholesterol,triglycerid và lipoprotein huyết thanh.

QUẢ : Vị chua, tính ấm thu hái vào lúc chín,sấy hoặc phơi khô làm thuốc ,có công dụng lợi tiểu thanh nhiệt,hoạt huyết giải độc .Được dùng để chữa các bệnh như:

1. Phù do viêm thận có các cách trị như sau:
-Qủa tầm xuân 3-6g+hồng táo 3 quả sắc uống 
- quả tầm xuân 20g+ đại hoàng 3g sắc chia uống 3 lần trong ngày.
2. tiểu tiện khó khăn dùng :quả tầm xuân 10g+mã đề 30g và biển súc 30g sắc chia uống 3 lần trong ngày.
3. Đau bụng khi hành kinh dùng quả tầm xuân 120g sắc lấy nước thêm chút rượu vang và đường uống ấm
4. Táo bón dùng quả tầm xuân 10g+3g đại hoàng sắc uống

Một số bài thuốc chữa bệnh từ cây Huyết Dụ

Huyết dụ có tác dụng dùng trị lao phổi với ho thổ huyết, rong huyết, băng huyết, lậu huyết, kinh nguyệt ra quá nhiều, kiết lỵ ra máu. Cây Huyết dụ có tên khoa học: Cordyline terminalis (Asparagaceae), được trồng nhiều nơi làm cảnh hoặc làm thuốc. Cây Huyết dụ có lá mọc thành chùm ở ngọn cây, lá như mũi dao màu đỏ tím.

​
Theo Đông y, Huyết dụ có vị nhạt, hơi đắng, tính mát, có tác dụng bổ huyết, tiêu ứ, cầm máu dùng chữa chứng kiết lỵ, rong kinh, phong thấp nhức xương, xích bạch đới, giảm đau, phong thấp gây đau nhức. Huyết dụ có tác dụng dùng trị lao phổi với ho thổ huyết, rong huyết, băng huyết, lậu huyết, kinh nguyệt ra quá nhiều, kiết lỵ ra máu, phong thấp, đau nhức xương, chấn thương bị sưng, viêm ruột, lỵ, ho gà ở trẻ em. Ngày uống nước sắc từ 20-25g lá tươi.


Sau đây là một số tác dụng của cây Huyết dụ:

- Chữa rong kinh, rong huyết: Kinh quá nhiều sau khi đẻ hoặc sẩy thai (nhau đã ra rồi): Lá Huyết dụ 20g, rễ cỏ tranh 10g, đài tồn tại của quả mướp 10g, rễ cỏ gừng 8g. Tất cả mang thái nhỏ sắc với 400ml nước còn 100ml. Chia uống làm 2 lần trong ngày.
- Chữa khí hư bạch đới: Lá Huyết dụ tươi 40g, lá thuốc bỏng 20g, Bạch đồng nữ 20g, sắc uống.
- Chữa ho ra máu: Lá Huyết dụ 10g, rễ Rẻ quạt 8g, Trắc bách diệp sao đen 4g, lá Thài lài tía 4g. Tất cả phơi khô, sắc chia làm 2-3 lần uống trong ngày.
- Chữa bị thương ứ máu hay phong thấp đau nhức: Dùng Huyết dụ cả lá, hoa, rễ 30 g, Huyết giác 15 g, sắc uống.
- Chữa kiết lỵ ra máu: Rễ Huyết dụ 20g, Nhọ nồi 12g, Rau má 20g, rửa sạch giã nát, thêm nước, gạn uống. Dùng 2-3 lần ngày.
- Chữa trĩ ra máu, đái ra máu, băng huyết: Lấy 20g lá Huyết dụ tươi rửa sạch. Đổ 200ml nước vào sắc còn 100ml, chia uống trong ngày.
- Chữa đái ra máu: Lá Huyết dụ 20g, rễ cây Ráng, lá Lấu, lá cây Muối, lá Tiết dê, mỗi vị 10g. Rửa sạch, giã nát, thêm nước, gạn uống. Có thể dùng riêng lá Huyết dụ tươi 40-50g hoặc hoa và lá khô 20-25g.
- Chữa viêm dạ dày, viêm ruột, trĩ nội, hậu môn lở loét ra máu: Huyết dụ tươi 40 g, lá thuốc bỏng (sống đời), lá băn (xích đồng nam) đều 20 g, sắc uống.
- Chữa chảy máu cam, cháy máu dưới da: Lấy 30g lá Huyết dụ tươi, 20g cỏ Nhọ nồi, 20g lá Trắc bá (sao cháy) sắc uống.
- Chữa các loại chảy máu, xuất huyết tử cung và tiêu tiểu ra máu: Lá tươi huyết dụ 40-50 g, sắc uống (hoặc lá khô, hoa khô với lượng bằng 1/2 lá tươi).

Lưu ý: Phụ nữ trước khi sinh con và sau khi sinh mà bị sót nhau thì không được dùng thuốc có vị Huyết dụ và không dùng sau khi nạo thai.

Tìm hiểu tác dụng của cây Sò Đo Cam

Sò Đo Cam (Spathodea campanulata P. Beauv.) còn có tên là Chuông Đỏ, Hồng Kỳ, Đỉnh Phượng Hoàng, Tulip Phi Châu, thuộc họ Núc Nác (Bignoniaceae). Sò Đo cam có nguồn gốc từ Châu Phi, bắt đầu được trồng tại Việt Nam từ những năm 1960. Sò Đo Cam thuộc loại thân gỗ lớn, cao từ 12 -15m, tán lá rậm, lá thường xanh. Lá kép lông chim 1 lần, mọc đối. Cụm hoa mọc ở đầu cành, màu đỏ cam. Quả nang đứng, nhiều hạt, hạt có cánh.


​
Do hoa Sò Đo Cam có màu sắc đẹp, khi nở rộ tạo những mảng màu đỏ cam rực rỡ trên tán cây nên rất được ưa chuộng, được trồng nhiều nơi ở Việt Nam, tập trung nhiều nhất ở Bảo Lộc (Lâm Đồng). Khoảng cuối năm 2011, trên báo chí và internet tràn ngập thông tin cho rằng cây Sò Đo Cam là “cây ngoại lai xâm hại”, “kẻ xâm lăng thầm lặng”… và khuyến cáo không nên trồng loài cây này.


TRÍCH DẪN: “Theo tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN), cây Sò đo cam đã xâm hại các vùng đất nông nghiệp bỏ hoang và rừng rậm, hạt có khả năng phát tán trong gió và nảy mầm rất nhanh. Vì vậy, tổ chức này đã liệt Sò đo cam vào danh sách 100 loại sinh vật ngoại lai xâm hại, cảnh báo không trồng loại cây này”.

“Thêm vào đó, ẩn sau vẻ đẹp rực rỡ, Sò đo cam lại chứa trong mình một loại chất độc rất nguy hiểm, được gọi là biolarvicides, thường có trong hoa của cây. Đây là loại chất độc gây ảnh hưởng tới nhiều sinh vật sống xung quanh sò đo cam, khiến hệ sinh thái bị thay đổi. Nếu không có các biện pháp kịp thời, Sò đo cam sẽ gây ra sự biến mất dần dần của các quần thể động vật sống xung quanh cây, đe dọa đa dạng sinh học bản địa”.

Theo TS Phạm Trịnh Hùng - phó trưởng khoa Lâm Nghiệp ĐH Nông Lâm TP. HCM: “Spathodea campanulata là cây phát tán hạt qua gió, mọc nhanh, có khả năng loại bỏ các cây khác trong cùng phạm vi phân bố. Từ đó cho thấy cây này sẽ nhanh chóng xâm chiếm các vùng đất hoang hóa, các vùng rừng đã bị tác động dẫn đến việc làm giảm mức độ đa dạng sinh học do sự cạnh tranh tiêu cực của chúng với các loài cây khác.

Trong một hệ sinh thái thì các sinh vật sống có mối quan hệ qua lại theo chuỗi thức ăn, việc mất đi đa dạng thực vật sẽ hình thành hệ quả cho việc mất đi sự đa dạng của các loài động vật, từ đó đưa đến sự biến đổi, suy thoái hệ sinh thái và tất yếu có cội nguồn từ việc mất đa dạng sinh học bản địa”.

----

Từ những thông tin trên đã dấy lên nguồn dư luận kết án việc trồng Sò Đo Cam để trang trí đường phố, công viên và các khu resort.

Tuy nhiên, tại Việt Nam, Sò Đo Cam không gây ra nguy cơ xâm lấn như thông tin báo chí đã nêu. Trong tạp chí Hoa Cảnh số 11-2011, tác giả Nguyễn Thiện Tịch, GV trường Đại Học Khoa Học Tự Nhiên, Tổng thư ký Hội Hoa Lan Cây Cảnh đã phản biện trong bài “Sò Đo Cam – Kẻ xâm lăng thầm lặng?” như sau:

“….. Trong thực tế, cây Sò Đo Cam đã được trồng từ rất lâu ở nhiều địa phương trong đất nước chúng ta, nhưng chúng đã gây ra những tiêu cực gì? Chúng đã ‘loại bỏ các cây khác trong cùng phạm vi phân bố’ hay ‘nhanh chóng xâm chiếm các vùng đất hoang hóa’ ? Hãy chỉ rõ nơi nào, vùng miền nào ở Việt Nam đã bị cây Sò Đo Cam xâm chiếm. Nói rõ, chỉ rõ loài cây gì đã bị Sò Đo Cam loại bỏ ở Việt Nam?”

“Sò Đo Cam ‘phát tán hạt qua gió, mọc nhanh’ ? Đúng là hạt Sò Đo Cam có cánh để phát tán theo gió, nhưng phát tán bao xa? Cánh của hạt Sò Đo Cam cũng như cánh của hạt cây Nhạc Ngựa, hạt cây Bằng Lăng… cánh chỉ là phần mỏng dính theo trái nên nếu có bay xa thì cũng không quá 10m. Trái lại cánh của hạt Gòn, Lòng Mứt, Mai Chiếu Thủy… thì như cái dù bọc gió, bay xa cả cây số, thế mà Lòng Mứt, Bông Gòn, Mai Chiếu Thủy… còn chưa có khả năng xâm chiếm vùng miền nào! Hạt Sò Đo Cam mọc nhanh ư? Xin thưa rằng phải lập vườn ươm để gieo hạt, nuôi trồng rồi cung cấp cho công viên, người trồng kiểng đấy. Như vậy qua thực tế cho thấy hạt Sò Đo Cam không phát tán xa, không mọc nhanh dễ dàng để ‘loại bỏ’, ‘xâm chiếm’ đối tượng nào ở Việt Nam!”

Cũng theo tác giả Nguyễn Thiện Tịch, trong danh sách cập nhật 100 loài sinh vật ngoại lai xâm hại gây hậu quả nghiêm trọng trên thế giới công bố năm 2004 bởi tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) còn có cây Thơm Ổi (Ngũ Sắc) và cây Bọ Chét/Keo Dậu (Leucoena leucocephala) vốn đã được trồng tại VN từ rất lâu nhưng chưa hề thấy tác dụng xâm lấn của chúng đối với các loài thực vật khác.

Có thể nói, việc cây trở thành "loài thực vật xâm hại" còn phụ thuộc vào yếu tố môi trường của từng quốc gia. Cây Sò Đo Cam đầu tiên được trồng tại Lâm Đồng - Việt Nam là do kỹ sư canh nông Lương Văn Sáu mang về từ Versailles (Pháp) năm 1958. Đến nay đã hơn 50 năm Sò Đo Cam phát triển tại Việt Nam nhưng vẫn chưa có dấu hiệu gì là “kẻ xâm lăng thầm lặng”.

Tuy vậy, điều mọi người băn khoăn là: Trong cây Sò Đo Cam có chứa chất độc gây nguy hiểm cho con người hay không?

Theo bài viết của tác giả Nguyễn Thiện Tịch thì: “Sò Đo Cam cũng là cây thuốc, theo Cây Cỏ Vị Thuốc của GS. Phạm Hoàng Hộ thì vỏ cây Sò Đo Cam chứa Acid Spatodic. Vỏ cây đắp hay sắc uống trị lở bao tử, đái đường, sưng đường tiểu, sốt rét do Plasmodium berghei berghei”. 

Còn theo những bài báo phổ biến trên Internet (nhưng không ghi nguồn trích dẫn và tác giả) thì: “Sò Đo Cam lại chứa trong mình một loại chất độc rất nguy hiểm, được gọi là biolarvicides, thường có trong hoa của cây”.

Tuy nhiên, biolarvicides là một loại chất trừ sâu theo cơ chế sinh học (chỉ có tác dụng diệt trừ sâu bọ theo cách thức: chất này sẽ kết hợp với men tiêu hóa trong ruột sâu bọ, hòa tan các tinh thể để tạo thành các thành phần hoạt chất diệt côn trùng) , không gây độc hại cho cơ thể con người. (theo Certis Hoa Kỳ - Tổ chức hàng đầu thế giới về nghiên cứu và sản xuất thuốc trừ sâu sinh học).

Và theo kỹ sư cây xanh Trúc Lâm hiện đang làm và quản lý tại công ty Trúc Lâm Hà Nội thì: "Qua các thông tin, và một số bài viết tại nước ngoài thì tôi giám khẳng định cây Sò Đo Cam không phải là cây có hại. Chúng tôi đã trồng hàng nghìn cây này ở các khu đô thị, công viên nhưng chưa thấy sự phản ánh nào tiêu cực về giống cây này. Vườn ươm của chúng tôi có hàng vạn loại cây này."

Rõ ràng, chúng ta vẫn có thể trồng Sò đo cam tại Việt Nam vì vẻ đẹp tuyệt vời, công dụng hữu ích và tiềm năng gây hại không đáng kể của nó.

Cảnh giác với 5 loại thực vật có thể gây chết người ở Việt Nam

Ẩn mình xung quanh ta là vô số loài thực vật khác nhau. Từ cây dùng làm thức ăn, cây ăn trái cho tới các loại cây cỏ dại. Trong số đó, có những loài mang trong mình độc tính cực mạnh, nếu bạn không cẩn thận và ít hiểu biết có thể sẽ gặp rắc rối lớn nếu tiếp xúc phải. Dưới đây là 5 loại tiêu biểu nhất.

Cà độc dược



Tên khoa học Datura metel là một cây dại phân bố tại nhiều vùng, miền của Việt Nam. Trong Đông y, quả cà độc dược là một vị thuốc. Tuy vậy, do có độc tính cao, người dân chỉ sử dụng nó theo hướng dẫn của bác sĩ. Khi bị ngộ độc cà độc dược, nạn nhân có hiện tượng giãn đồng tử, mờ mắt, tim đập nhanh, giãn phế quản, môi miệng khô, khô cổ đến mức không nuốt và không nói được. Chất độc tác động vào hệ thần kinh trung ương, có thể gây tử vong do hôn mê. 


Hạt Cam Thảo Dây

Cam thảo dây (Abrus precatorius) là loài cây thuộc họ đậu, có dây lá như lá me, quả giống quả đậu nhưng bên trong mang những hạt có màu đỏ - đen rất đẹp, dễ thu hút sự chú ý của trẻ con. Tuy vậy, những hạy này chứa chất abrin, loại độc tố rất mạnh. Vài hạt cam thảo dây có thể gây chết người.


Quả Mã Tiền
Với hình dạng rất giống quả cam, quả mã tiền (Strychnos nux-vomica) là một thứ độc dược cực mạnh. Hạt của chúng chứa nhiều alcaloid, chất độc có khả năng gây co quắp toàn thân và tê liệt cơ hô hấp gây ngạt thở dẫn đến tử vong. Người ta thường dùng quả mã tiền để diệt chuột, song chúng cũng gây nên nhiều vụ ngộ độc khủng khiếp đối với người.


Cây móc gai hay móc hùm


Thuộc nhiều phân loài khác nhau như Capparis versicolor, Capparis tomentosa, Capparis moonnii... có quả hơi giống quả dâu da đất. Ruột quả có một lớp cơm nhầy bao bọc trông khá hấp dẫn. Tuy vậy, đây là nơi chứa chất glycosid có thể gây ức chế thần kinh trung ương dẫn đến tử vong. 


Thầu Dầu

Người dân hay trồng cây thầu dầu (Ricinus communis) để làm cảnh do quả của chúng có hình dáng đẹp. Nhưng hạt thầu dầu chứa ricin, một độc tố mạnh. Theo các nhà khoa học, lượng độc tố từ 5 - 6 hạt thầu dầu có thể khiến một trẻ em nhỏ tử vong, 9 - 10 hạt có thể làm chết một người lớn.

Tìm hiểu các tác dụng y dược của Bọ Ngựa

Tên khoa học là Mantis religiosa Linnaeus, bộ phận dùng làm thuốc là toàn con bọ ngựa (Đường lang) và tổ bọ ngựa trên cây dâu (Tang phiêu tiêu).

 ​
* Bọ ngựa vị ngọt mặn, tính ấm, có công dụng bổ thận cố tinh, tư âm sáp niệu, giải độc trấn kính ; thường được dùng để chữa các chứng di tinh, di niệu, tảo tiết, liệt dương, đi tiểu nhiều lần, bạch trọc, xích bạch đới, hầu họng sưng đau, trĩ hạ, viêm loét, kinh giản…
- Di tinh, bạch trọc (chảy mủ ở đầu dương vật) : bọ ngựa 15g, long cốt 40g, sấy khô tán bột, mỗi ngày trước khi ngủ tối uống 10g với nước muối nhạt.
- Hầu họng sưng đau : bọ ngựa 1 con, băng phiến 3g, bằng sa 2g, sấy khô tán bột, thổi vào họng mỗi ngày 2 - 3 lần.
- Liệt dương do thận hư : bọ ngựa 15g, nấu ăn hoặc bọ ngựa 15g, ếch 1 con, hầm ăn hàng ngày.
- Phù hai chân : bọ ngựa 2 con, vỏ bí đao 30g, trư linh 20g, phục linh 20g, râu ngô 20g, sắc uống mỗi ngày 1 thang.
- Động kinh : bọ hung 5g, cương tàm 9g, toàn yết 2g, ngô công 5g, bột trân châu 30g, bán hạ chế 30g, nam tinh chế 20g, thịt ốc biển 30g, tất cả sấy khô tán bột, uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 2g.
- Mẩn ngứa : bọ ngựa sấy khô, tán bột, rắc xoa.
- Viên đạn hoặc mảnh kim khí nằm trong da thịt không lấy ra được : bọ hung 1 con, ba đậu nửa hạt, hai thứ giã nát đắp vào miệng vết thương, sau khi lấy được dị vật dùng nước sắc hoàng liên ngâm rửa.
* Tang phiêu tiêu vị ngọt mặn, tính bình, có công dụng bổ thận trợ dương, cố tinh sáp niệu, an thần định chí, thường dùng để chữa các chứng liệt dương, di tinh, xuất tinh sớm, mất ngủ, hay quên, bạch trọc, đái dầm, tiểu đêm nhiều lần, khí hư…
- Liệt dương : tang phiêu tiêu 6g, phá cố chỉ 15g, kỷ tử 15g, hải cẩu thận hoặc dương thận 1 bộ, nhụ c thung dung 30g, ba kích 15g, tất cả sao khô tán bột, uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 9g.
- Đái dầm : tang phiêu tiêu 3g, bàng quang lợn 1 cái, hầm ăn hoặc tang phiêu tiêu 6g, ích trí nhân 6g, sấy khô tán bột chia uống 2 lần trong ngày. Hoặc tang phiêu tiêu 10g, ích trí nhân 10g, khiếm thực 10g, long cốt 15g, kim anh tử 10g, thỏ ty tử 10g, phúc bồn tử 10g, mẫu lệ 15g, sắc uống. Hoặc tang phiêu tiêu 12g, đẳng sâm 12g, phá cố chỉ 12g, ích trí nhân 8g, thỏ ty tử 8g, ba kích 8g, sắc uống.
- Khí hư, đau lưng nhiều : tang phiêu tiêu 9g, thỏ ty tử 9g, thục địa 15g, sắc uống.
- Tiểu tiện nhiều lần : tang phiêu tiêu 30g sao vàng, sắc chia 2 lần uống trong ngày.
- Giảm trí nhớ, tiểu tiện nhiều lần : tang phiêu tiêu 3g, viễn chí 4,5g, thạch xương bồ 4,5g, đẳng sâm 9g, quy bản 9g, sắc uống.
- Di tinh, bạch trọc : tang phiêu tiêu 20g, long cốt 20g, sấy khô tán bột, uống mỗi lần 8g với nước muối nhạt. Hoặc tang phiêu tiêu 12g, long cốt 30g, mẫu lệ 30g, kim anh tử 15g, hoàng bá 10g, tri mẫu 10g, dạ giao đằng 30g, sắc uống mỗi ngày 1 thang.
- Phụ nữ có thai tiểu tiện nhiều lần và không tự chủ : tang phiêu tiêu 12g sấy khô tán bột chia 2 lần uống trong ngày với nước cơm.
- Phụ nữ có thai tiểu tiện khó khăn và đau : tang phiêu tiêu sấy khô tán bột, uống mỗi ngày 3 lần, mỗi lần 5g với nước cơm.
- Tiểu tiện không thông : tang phiêu tiêu nướng vàng 30 cái, hoàng cầm 2 lạng, sắc kỹ chia uống 2 - 3 lần.
- Mất ngủ, hay quên : tang phiêu tiêu 10g, , viễn chí 6g, trân châu mẫu 30g, thạch xương bồ 10g, phục linh 15g, long cốt 30g, mẫu lệ 30g, sắc uống mỗi ngày 1 thang.
- Hóc xương cá : tang phiêu tiêu sắc với dấm uống.
- Sán khí (sa đì) gây đau : tang phiêu tiêu 30g, tiểu hồi hương 30g, thăng ma 15g, sài hồ 10g, sấy khô tán bột, uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 3g với nước sắc hạt tiêu.
- Ráy tai đau nhức : tang phiêu tiêu đốt tồn tính, xạ hương một chút, trộn đều rắc vào trong tai.
- Đau lưng, đái són : tang phiêu tiêu 30g, ba kích 30g, thạch hộc 20g, đỗ trọng 20g, tất cả thái nhỏ phơi khô, tán bột, luyện với mật ong thành viên 6g, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 1 viên với rượu hâm nóng. Hoặc tang phiêu tiêu 10g, kim anh tử 10g, liên tu 10g, hoài sơn 12g, sắc với 400 ml nước còn 100 ml chia uống 2 lần trong ngày.
- Xuất huyết dạ dày, phổi : tang phiêu tiêu sao vàng tán bột, bạch cập 15g sắc lấy 100 ml, mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 3g tang phiêu tiêu với nước sắc bạch cập.

Những công dụng y học tuyệt vời của loài Bọ Hung

Còn gọi là khương lang, thiết giác ngưu, tên khoa học là Allomyrina dichotoma Linnaeus, dùng toàn con phơi hoặc sấy khô, vị mặn, tính hàn, có độc, có công dụng định kính, phá ứ, thông tiện, công độc ; thường được dùng để chữa các chứng co giật, thao cuồng, động kinh, chướng bụng bí kết, ác sang, bệnh lậu, cam tích…

 ​
- Trẻ em kinh phong co giật : bọ hung 2g giã nát, sắc uống, mỗi ngày 2 lần
- Sỏi đường tiết niệu, bàng quang : bọ hung bỏ đầu sấy khô trên viên ngói nóng rồi tán thành bột mịn, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 3g.
- Lỵ trực khuẩn : bọ hung sao tồn tính, tán bột, uống mỗi lần 4g với rượu ấm.
- Sốt rét, lam chướng : bọ hung đốt tồn tính, tán nhỏ, uống mỗi lần 4g với nước tiểu trẻ em.
- Thoát giang : bọ hung lượng vừa đủ sao tồn tính, tán bột, trộn với một chút băng phiến rồi xát vào tổn thương.
- Trĩ viêm loét, ác sang và tràng nhạc (lao hạch) : bọ hung sao vàng, tán bột hoà với dầu vừng rồi bôi vào tổn thương.
- Cam tích : bọ hung rửa sạch, sấy khô tán bột, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 1 con. Hoặc bọ hung 5g, ngũ cốc trùng 6g, tiêu sơn tra 6g, ngưu giác tai 6g, hương phỉ tử nhụ c 10 hạt, chích cam thảo 2g, sắc uống mỗi ngày 1 thang.
- Bí đại tiểu tiện : bọ hung sao đen tán bột, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 0,9g.
- Đại tiện bí do liệt ruột : bọ hung 7 con, thạch xương bồ 9g, hắc bạch sửu 9g, sắc uống mỗi ngày 2 lần cho đến khi đại tiện thông thoáng thì ngừng.
- Ung thư mũi họng : bọ hung 9g, thương nhĩ tử 15g, thiết thụ diệp 30g, thất diệp nhất chi hoa 30g, ngư não thạch 15g, sắc uống mỗi ngày 1 thang.
- Polip mũi, mất khứu giác : bọ hung 10g, hậu phác 10g, trần bì 10g, ô dược 10g, bạch thược 10g, mộc hương 10g, hương phụ 10g, hoắc hương 15g, sắc uống mỗi ngày 1 thang.
- Dò hậu môn (trĩ lậu xuất thuỷ) : bọ hung sấy khô tán bột, dùng tăm bông tẩm thuốc nhét vào lỗ dò, mỗi ngày thay thuốc 1 lần.
- Mụn nhọt, lở loét : bột bọ hung trộn với dấm đắp vào nơi tổn thương.
- Tên bắn hoặc dằm xóc sâu không ra : bọ hung 1 con giã nát đắp vào nơi bị thương.
- Hóc xương : bọ hung 2 con đốt cháy, hoả tiêu diêm 4g, tán bột hoà với dầu vừng xoa vào cổ.

Đất bọ hung đùn (Lang chuyển) cũng được dùng làm thuốc, có tính hàn, không độc, dùng để chữa nhọt lở, thương hàn, bệnh thời khí, hoàng đản, hoắc loạn và hư phiền.